|
"Chính sách ưu đãi đầu tư là "nam châm" hút nhà đầu tư, nhưng không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến quyết định rót vốn của họ vào Việt Nam" - Ý kiến của bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trưởng ban Khoa học Quản lý, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TƯ (CIEM) mở đầu cho những phân tích về tác động của các chính sách ưu đãi đầu tư tới sự phát triển bền vững của Việt Nam trong lĩnh vực khai khoáng. Theo điều tra của CIEM, lý do các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư là: Chính sách ưu đãi đầu tư tốt và môi trường pháp lý đầu tư ngày càng cởi mở. "Song ngay cả khi chúng ta không dành những ưu đãi đặc biệt này cho nhà đầu tư thì họ vẫn quan tâm tới Việt Nam, đặc biệt ở lĩnh vực khai khoáng". Để chứng minh cho nhận định này, bà Hồng đã viện dẫn ý kiến từ 10/40 doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng ở Việt Nam hiện nay. Khai khoáng là lĩnh vực đầu tư lâu dài, đòi hỏi nhiều vốn, nhiều công sức và thời gian, một khi các nhà đầu tư quyết định chọn Việt Nam là điểm đến nghĩa là họ đã nhìn thấy tiềm năng lâu dài từ 5 - 20 năm. "Đây mới là lý do chính để họ quyết định rót vốn vào Việt Nam" - bà Hồng nhấn mạnh. Trong vòng 8 năm trở lại đây, các doanh nghiệp FDI đầu tư vào lĩnh vực khai khoáng của Việt Nam luôn nhận được sự ưu ái rất lớn về thuế. So sánh mức thuế một số loại tài nguyên của nước ta với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhóm nghiên cứu CIEM rút ra nhận xét: "Thuế tài nguyên của ta thấp hơn nhiều nước trong khu vực, nhất là các nước phát triển". Cụ thể, thuế vàng của Việt Nam dao động từ 2 - 6%, thấp hơn nhiều so với Úc là 2 - 15%; doanh nghiệp khai thác than ở ta chỉ phải chịu mức thuế 1-3% nhưng ở Indonesia là 13,5%, Úc là 5,5%, còn Nga là 4%... Chưa kể doanh nghiệp FDI tới Việt Nam còn được hưởng rất nhiều ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo tính toán của CIEM, những ưu ái có phần dễ dãi này đang làm ngân sách Nhà nước thất thu hơn 700 tỷ đồng (năm 2006). Nhận được ưu đãi lớn song các doanh nghiệp FDI thường tìm cách "lờ" đi các điều khoản cam kết với địa phương về kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu của CIEM chỉ rõ, đóng góp của chủ doanh nghiệp FDI cho bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và công đoàn không hề vượt trội hơn so với các doanh nghiệp trong nước, thậm chí có năm còn thấp hơn. Chỉ có 10% số doanh nghiệp này dành sự đầu tư thích đáng cho phát triển bền vững nguồn nhân lực. Đáng lo ngại nhất là vấn đề môi trường, có tới 80% doanh nghiệp FDI không đầu tư trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường, 60 - 81% doanh nghiệp không chịu chi cho hoạt động bảo vệ môi trường hàng năm. Có thể nói, "chính sách ưu đãi đầu tư không phải là điều kiện tiên quyết để nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư vào Việt Nam, càng không phải là yếu tố giúp chúng ta định hướng hành vi ứng xử của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực khai khoáng" - PGS.TS Nguyễn Thế Chinh (ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đồng tình với kết luận của nhóm nghiên cứu CIEM. Nếu chúng ta tiếp tục dành quá nhiều chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài mà không gắn kết chính sách với các điều kiện ràng buộc về xã hội, môi trường thì về lâu dài nguồn tài nguyên của ta sẽ cạn kiệt, môi trường bị huỷ hoại… Các chuyên gia cho rằng, việc Bộ Tài chính chủ trương ban hành Pháp lệnh Thuế Tài nguyên (sửa đổi) từ ngày 1/1/2009, trong đó đề nghị khung thuế suất cao hơn nhiều so với trước đây là cần thiết. Có thể các doanh nghiệp sẽ thiệt thòi đôi chút nhưng so với nhiều nước, khung thuế này vẫn ở mức trung bình.
Trích từ Hanoinet |